Tin tức
MODULE 3: GIÁO DỤC HỌC SINH THCS CÁ BIỆT
MODULE 3(15 tiết)
GIÁO DỤC HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ CÁ BIỆT
A. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Lứa tuổi HS THCS là lứa tuổi khủng hoảng trong sự phát triển tâm lí, chính vì vậy mà so với HS ở bậc Tiểu học, lứa tuổi này dễ xuất hiện những HS khó giáo dục. Mâu thuẫn trong chính sự phát triển tâm lí ở lứa tuổi này, cùng với thiếu sự giúp đỡ, hỗ trợ kịp thời của người lớn do thiếu hiểu biết đặc điểm và những khó khăn của các em mà một số em đã không vượt qua được giai đoạn này một cách tích cực, hình thành những thái độ, hành vi không phù hợp.
Những HS có những thái độ, hành vi không phù hợp với giá trị, nội quy, truyền thống của tập thể, không thực hiện tròn bổn phận và trách nhiệm của người HS, hoặc thiếu văn hoá, đạo đức trong quan hệ ứng xử với mọi người, đồng thời không có động cơ học nên kết quả học tập yếu, kém... được lặp lại thường xuyên và trở thành hệ thống được coi là cá biệt.
Trách nhiệm của GD nói chung và GV nói riêng là không được để tồn tại những HS có hành vi chưa phù hợp với bổn phận, trách nhiệm công dân, chưa phù hợp với giá trị xã hội, với những quy định chung của nhà trường, lớp học, cộng đồng. Bời vì GD khác với các ngành sản xuất là không cho phép tạo ra những phế phẩm về nhân cách - không mang lại hạnh phúc cho cuộc đời các em, mà còn có hại cho xã hội. Hơn nữa, nếu trong lớp để tồn tại những HS cá biệt, luôn có những hành vi tiêu cực, không phù hợp thì sẽ ảnh hưởng đến tập thể, những thành viên khác. Trong thực tế nhiều GV cảm thấy rất khó khăn, có khi là bất lực khi trong lớp có HS cá biệt. Vì vậy, GV cần có những kĩ năng giúp những em này điều chỉnh, thay đổi niềm tin, thái độ, hành vi của mình để các em có tương lai tốt đẹp hơn.
Một trong những tư tưởng chủ yếu trong chiến lược phát triển giáo dục thế kỉ XXI của UNESCO là GV phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức. Tư tương đó nhấn mạnh người GV phổ thông trong thời đại mới phải biết phát triển ở người học ý thức về các giá trị đạo đức, tinh thần, thẩm mĩ, tạo nên bản sắc vàn hoá truyền thống riêng của từng dân tộc. GV hơn ai hết phải là nhà GD, bằng chính nhân cách của mình tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của HS.
Người GV trong nền giáo dục hiện đại cần phải là người phát triển cảm xúc, thái độ, hành vi của HS, biết khơi gợi nhu cầu, hứng thú, của người học; là người giúp cho HS biết cách học, cách tự rèn luyện cả về phẩm chất và năng lực cá nhân, hướng tới mục đích hình thành những nhân cách phù hợp, đáp ứng những yêu cầu của xã hội. GV giỏi là người biết tạo ra động lực và giúp đỡ Hs tiến bộ.
Module 3 sẽ trang bị cho GV những hiểu biết về kĩ năng cơ bản để tìm hiểu thông tin về HS THCS cá biệt điều quan trọng nhất ở đây là, những thông tin mà họ thu thập, chứ không phải là để phê phán mà là để gíup đỡ HS để giáo dục tham vấn giúp các em thay đổi thái độ, hành vi cho phù hợp và đánh giá sự tiến bộ và kết quả học tập và GD các em.
Nôi dung của module gồm các hoạt động chính:
Tìm hiểu các nội dung cần thu thập thông tin về HS cá biệt.
Tìm hiểu cách thu thập thông tin về HS cá biệt.
Hướng lưu trữ, khai thác thông tin về HS cá biệt.
Tìm hiểu các nguyên nhân có thẻ dẫn đến hành vi sai lệch của HS cá biệt.
Tìm hiểu cách thức GD HS cá biệt.
Tìm hiểu cách đánh giá kết quả học tập, GD HS cá biệt.
Module này cần được học sau khi đã học các module về tâm lí, giáo dục. Hướng dẫn tự học:
Bước 1
Người học dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của bản thân để thực hiện một số yêu cầu của hoạt động.
Bước 2
Đối chiếu những nội dung tự viết dụa trẻn suy nghĩ, hiểu biết của mình với thông tin phản hồi hoạt động và tự mình hoàn thiện những nội dung đã viết theo yêu cầu, câu hỏi mà hoạt động đặt ra.
Bước 3
Để kiểm nghiệm câu trả lời của mình cần chia sẻ với đồng nghiệp để các ý kiến được cọ xát, một lần nữa người học sẽ nhận thức được vấn đề sâu hơn, toàn diện hơn, chính xác hơn.
B. MỤC TIÊU
Sau khi học xong module này, HV có thể: về tri thức và kĩ năng
Nắm được được các phuơng pháp thu thập thông tin về HS cá biệt; các PPGD và các phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của HS cá biệt.
Sử dụng và phối hợp được các phuơng pháp thu thập thông tin về HS cá biệt; các PPGD và các phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của HS cá biệt có tính đến đặc điểm lứa tuổi HS THCS và đặc điểm cá nhân.
về thái độ
Tin tường rằng mọi HS đều có thể thay đổi theo hướng tích cực và tôn trọng Hs cá biệt như là những nhân cách có giá trị.
Cam kết giúp đỡ, hỗ trợ HS cá biệt thay đổi niềm tin và hành vi không mong đợi.
C. NỘI DUNG
Hoạt động 1: Nội dung cần tìm hiểu về HS cá biệt ở lứa tuổi trung học cơ sở (tự đọc)
Bạn đã từng GD HS cá biệt. Để nắm được đặc điểm tâm lí HS cá biệt, người GV cần quan tâm đến những vấn đề gì khi tìm hiểu đối tượng HS cá biệt? Bạn hãy nhớ lại và liệt kê những nội dung cần tìm hiểu.
THÔNG TIN PHẢN HỒI
Những yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến học sinh, bạn bè và môi trường sống
- Ảnh hưởng của nhóm bạn: Thủ lĩnh của nhóm không chính thức (tự phát) mà HS cá biệt tham gia và định hương giá trị, những quy ước của nhóm có những tác động tiêu cực hay tích cực nào đến HS đó.
- Ảnh hưởng của gia đình: Gia đình đầy đủ hay khuyết thiếu, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa của gia đình, lối sống và bầu không khí tâm lí- đạo đức trong gia đình, tính chất các mối quan hệ và sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình; sự quan tâm của gia đình đối với việc giáo dục và học hành của con...
- Ảnh hưởng của môi trường sống, các quan hệ xã hội khác: HS đó sống trong môi trường lành mạnh hay chứa đựng những ảnh hưởng tiêu cực, nguy cơ rủi ro nào...
Những khó khăn về từng phương diện của học sinh
Những khó khăn về học tập, sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, tâm lí cá nhân, khả năng tự nhận thức được bản thân, không định hướng được những giá trị đích thực, thiếu hoặc mất niềm tin vào khả năng và giá trị của bản thân, sự lôi kéo, áp lực của nhóm bạn tự phát, những thói quen tiêu cực...
Việc tìm hiểu những trở ngại trong học tập và những khó khăn về mặt tâm lí của HS để kịp thời hỗ trợ, khích lệ các em hành động đúng sẽ giúp các em tránh được những hành vĩ không mong đợi
Những nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng học sinh cá biệt
Theo quan điểm của Gardner thì trong bản thân mỗi con người có rất nhiều khả năng, trong đó có những khả năng chưa bao giờ sử dụng, hoặc ít sử dụng. Đồng thời ai cũng có những năng lực nhất định. Theo ông có s dạng năng lực trí thông minh của con người như sau:
- Năng lực giao tiếp ngôn ngữ thể hiện ở khả năng dùng từ ngữ chuẩn xác, linh hoạt, ngôn ngữ phát triển, cách viết sáng tạo, tranh luận bằng lời lưu loát có tính thuyết phục; ứng khẩu nhanh, dùng những câu nói hài hước, kể chuyện hấp dẫn.
- Nàng lực tư duy lô gic và toán học thể hiện ở khả năng hiểu nhanh những kí hiệu trừu tượng công thức, biết vạch dàn ý, nhớ các chữ số, tính toán nhanh, hiểu mã số, nắm bất những mối quan hệ bắt buộc nhanh, hiểu và hay sử dụng tam đoạn luận, giải quyết vấn để logic, sáng tác các trò chơi điển hình.
- Năng lực tưởng tượng (hình ảnh/hội hoạ/không gian): Khả năng hình tượng, tưởng tượng sống động, thể hiện bằng biểu đồ màu, trình bày các mẫu vẽ mẫu thiết kế, vẽ tranh và cảm nhận tranh, trí tưởng tượng trong đầu phong phú, nhập vai nhanh.
- Năng lực âm nhạc: Biết cảm thụ âm nhạc, biết nghe nhạc.
- Năng lực nội tâm: Thể hiện ở phuơng pháp phản ánh nội tâm, kĩ năng nhận thức, biết cách suy ngẫm, biểu diễn biến tâm lí, tự khám phá bản thân, biết cách suy luận, khả năng tập trung tư duy, phương pháp suy luận mang tính logic cao.
- Năng lực quan hệ ứng tác, quan hệ xã hội: Đưa ra sự phản hồi phù hợp, nhận biết cảm giác của người khác, biết giao tiếp cá nhân, biết phân công và hợp tác trong quá trình hoạt động, nhận phản hồi và lập kế hoạch hợp tác nhóm.
- Năng lực thể thao vận động. Thể hiện ở các điệu nhảy sáng tạo, thể dục thể thao, kịch, võ thuật, ngôn ngữ cơ thể, các bài thể dục, kịch câm, sáng tạo, trò chơi thể thao.
- Năng lực tìm hiểu thiên nhiên: Thể hiện ở năng lục cảm thụ cái đẹp của thiên nhiên, hiểu thiên nhiên.
HS nói chung và HS cá biệt nói riêng đều có thể có đầy đủ hoặc một số năng lực nêu trên, vì vậy người GV cần tìm hiểu và xác định được để tạo điều kiện và hỗ trợ các em phát triển chúng.
Đồng thời, theo nhà tâm lí học Maslow, nhu cầu con người có nhiều và được phân chia theo 5 tầng:
- Tầng thứ nhất (Physiological): Các nhu cầu thuộc về “thể lí" bao gồm các nhu cầu như: Đồ ăn, thức uống, thở, nghỉ ngơi, chỗ ở, quần áo, bài tiết, tình dục.
- Tầng thứ hai (Safety): Nhu cầu an toàn về thân thể, sức khoẻ, việc làm, tài sản...
- Tầng thứ ba (Love/belonging): Nhu cầu xã hội như tình cảm, tình bạn, muốn được trực thuộc một nhóm cộng đồng nào đó.
- Tầng thú tư (Esteem): Bao gồm các nhu cầu được kính trọng, được quý mến, tin tưởng, địa vị, danh tiếng, thành đạt...
- Tầng thứ năm (Self- actializatLGn): Các nhu cầu hiện thực hoá bản thân như khả năng trình diễn, khả năng sáng tạo...
Theo sự phát triển của lứa tuổi và trình độ phát triển của mỗi cá nhân, con người sẽ có và muốn được thoả mãn các nhu cầu từ tầng thấp đến tầng cao. HS ở lứa tuổi vị thành niên nói chung, HS cá biệt ở lứa tuổi này nói riêng đều có thể có đầy đủ các nhu cầu ở các mức độ nêu trên. vì vậy, GV cũng cần tìm hiểu các nhu cầu này ở HS cá biệt cụ thể để phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, đáp ứng những nhu cầu chính đáng và khích lệ những nhu cầu được quý mến, tôn trọng, tin tường, có giá trị phát triển.
Niềm tin, quan niệm của học sinh về các giá trị trong cuộc sống
Niềm tin và quan niệm về giá trị trong cuộc sống của mỗi cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách ứng xử của người đó đối với những người xung quanh và những hoạt động khác, vì vậy, GV cần tìm hiểu xem HS cá biệt đó có những niềm tin nào? Coi điều gì là quan trọng đối với bản thân và cuộc sống?... để có thể tác động làm thay đổi những niềm tin và giá trị không hợp lí đang chi phổi hành vi ứng xử của HS này...
Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học tập, cách thức HS suy xét vấn đề, những mô hình nhận thức mà HS đang có... để có chiến lược tiếp cận phù hợp.
Tính cách với những đặc điểm cơ bản, trong đó có coi trọng khám phá những nét tích cực để phát huy nó nhằm triệt tiêu những nét tiêu cực của chính HS này. Hành vi, thói quen chưa tốt và những nguyên nhân làm cho HS có hành vi lệch lạc để có kế hoạch hỗ trợ HS cá biệt thay đổi thói quen, hành vĩ này trên cơ sở khắc phục những nguyên nhân gây ra chúng.
ĐÁNH GIÁ
Bạn hãy chia sẻ với đồng nghiệp để thực hiện một số yêu cầu sau:
Theo bạn để GD HS cá biệt tiến bộ, người GV cần nắm được những thông tin cần và đủ nào về HS đó?
Phân tích ý nghĩa của từng loại thông tin về HS cá biệt đối với người GV chú nhiệm, GV môn học.
Hoạt động 2: Phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt
Bạn sử dụng những phuơng pháp nào để thu thập thông tin về Hs cá biệt? Hãy nhớ lại và liệt kê các phương pháp thu thập thông tin về HS cá biệt mà mình biết hoặc đã sử dụng:
THÔNG TIN PHẢN HỒI
Tổ chức cho học sinh viềt về những điều có nghĩa đối với bản thân và cuộc sống theo quan niệm các em.
Bước I: Phát cho mỗi GV tờ giấy yêu cầu đặt mình vào vị trí là HS suy nghĩ để trả lời các câu hỏi dưới đây:
Họ, tên.
Đặc điểm tính cách nổi bật.
Những điểm mạnh.
Những điểm yếu.
Những sở thích.
Những điều không thích.
Những mong muốn.
(S) Những mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.
Những thuận lợi để thực hiện mục tiêu, mong muốn.
Những khó khăn, rào cản trong việc thực hiện mục tiêu, mong muốn.
Những ảnh hưởng tích cực từ gia đình, bạn bè, môi trường sống, học tập.
Những nguy cơ, thách thức, ảnh hưởng tiêu cực từ gia đình, bạn bè, môi trường sống, học tập.
Bản thân cần sự giúp đỡ nào từ GV, bạn bè?
Bản thân sẽ định làm gì để đạt được những mong muốn, mục tiêu của mình?
Bước 2. Tổ chức cho GV xung phong chia sẻ với mọi người trong lớp (đổi với HS có thể tổ chức hoạt động này trong giờ sinh hoạt lớp).
Số GV/HS còn lại chưa có dịp chia sẻ có thể để trong phong thư găn trên tường có đề tên của từng người - để mọi người tìm hiểu về nhau biết những điều bạn mình thích hoặc không thích nhằm tránh bất tiện, phù hợp với sờ trường của bạn, hoặc hỗ trợ, giúp đỡ nhau thực hiện mục tiêu, mong muốn.
Bước 3. Kết luận:
Thông qua tổ chức cho HS thực hành kĩ năng tự nhận thức bản thân, GV có thể nắm được những thông tin cơ bản về cá tính của từng HS để giúp GV tiếp cận cá nhân phù hợp.
Quá trình suy ngậm để trả lời 14 câu hỏi nêu trên đã giúp HS nhận ra những điểm mạnh cần phát huy, những điểm yếu cần khắc phục...
Kết quả tự nhận thức của HS nên lưu vào hồ sơ cá nhân để GV theo dõi, tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ các em tiến bộ.
Sắm vai trò chuyện với học sinh cá biệt ngoài giờ học
Bưóc 1: Chia lớp thành các nhóm từ 5 đến s người. Mỗi nhóm đọc những thông tin cơ bản dưới đây và phân công hai người sắm vai: một là HS cá biệt và một là GV.
Đây là con đường trực tiếp và thu được nhiều thông tin, hiệu quả nếu GV biết tạo ra môi trường an toàn và HS cá biệt tin tưởng, cảm giác thoải mái, thể hiện cho HS đó thấy rằng mình muốn nghe từ cách nhìn cũng như cử chỉ thể hiện sự quan tâm lắng nghe để hiểu hơn là để đáp lại, tránh những việc làm gây mất tập trung, đồng cảm với HS. GV cũng cần cổ gắng đặt mình vào hoàn cảnh người nói và xem xét đến các quan điểm khác, đồng thời GV cũng cần giữ bình tĩnh và kiên nhẫn không cắt ngang. Đặc biệt GV cần tránh tranh cãi – hoặc phê phản vì việc này sẽ đẩy người nói vào tư thế phòng vệ hoặc có thể tức giận. Ngoài ra, GV cón cần chú ý một số yêu cầu sau:
- Về mục đích nghe: Khi nghe HS, ngoài mục đích tìm hiểu thông tin GV cần phải quan tâm tìm hiểu tâm trạng người nói, thể hiện thái độ khích lệ và tôn trọng các em.
- Về thái độ nghe: Nên ngồi xuống trước mặt, không nên lơ đễnh, không nghe hời hợt như vậy sẽ làm cho người nói tổn thương. GV phải thể hiện thiện chí muốn lắng nghe. Sự thiện chí của GV thể hiện ở thái độ và cách khuyến khích người nói, có thể bằng ánh mắt, lời nói động viên khuyến khích: Tôi đang nghe đây, em cứ tiếp tục đi... đồng thời GV còn cần thể hiện sự cời mở, không thành kiến, thể hiện tình thương.
Nắm yếu tố chính của lắng nghe tích cực
Tập trung chú ý.
Thể hiện rằng bạn đang lắng nghe.
Cung cấp thông tin phân hồi.
Không vội đánh giá.
Đối đáp hợp lí.
Trong khi trò chuyện với HS cá biệt mà GV không biết lắng nghe tích cực chấp nhận cảm xúc của họ thì có thể không giúp HS tháo gỡ tâm lí e ngại, phòng thử để chuyển sang hướng giao tiếp cởi mở, tích cực hơn. Nếu lắng nghe từ trái tim, tất cả các dấu hiệu phi ngôn ngữ đều có ý nghĩa.
Cùng với biết lắng nghe tích cực GV cũng cần biết và dạy HS cách phản hồi hay bày tỏ cảm xúc, nghĩa là thể hiện hoặc chia sẻ những cảm xúc của bản thân với những người khác. Bày tỏ cảm xúc sẽ giúp HS tránh khỏi tình trạng căng thẳng trên cơ sở tạo ra khung cảnh an toàn, tin tưởng, cảm thông, lắng nghe không phê phán.
Bước 2: Thực hành trò chuyện với HS cá biệt
Các nhóm cử 2 người đại diện trình bày phần sắm vai, vận dụng những yêu cầu nêu trẻn để trò chuyện, tìm hiểu HS cá biệt theo những nội dung gợi ý ở hoạt động 1.
Các thành viên trong lớp nhận xét, chia sẻ ý kiến cá nhân về phần thực hành của từng nhóm.
Các phương pháp thu thập thông tin khác về học sinh cá biệt
Quan sát trong quả trình cũng tham gia vào các hoạt động với HS Trước khi quan sát, GV cần xác định mục tiêu và các tiêu chí quan sát. Trong quá trình quan sát, cần phát hiện và ghi nhận khách quan những thái độ, hành vi của HS cá biệt đối với công việc, đối với những người xung quanh.
Sau khi quan sát cần phân tích những hiện tượng thu thập được trong quá trình quan sát trên cơ sở liên kết các thông tin và các sự kiện để rút ra những giả thuyết về đặc điểm của HS đó.
Cần chú ý một số điều sau để tránh sai lệch trong quan sát 4- Tôn trọng những gì đang diễn ra tự nhiên đối với HS.
- Không áp đặt.
- Không định kiến, nhận dạng hiện tượng quan sát được theo ý chú quan của mình.
Tìm hiểu vê HS thông qua nhóm bạn thân
Tiếp cận nhóm bạn thân để tìm hiểu các hoạt động, tính chất quan hệ của các em, cũng như xác định được những giá trị và ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của các em đối với nhau.
Tìm hiểu về HS thông qua gia đình
Khi thăm gia đình HS, GV có vai trò là khách cho nên cần lưu ý:
- Tôn trọng, chấp nhận và thích ứng với nếp sống của gia đình HS.
- Tỏ thái độ lạc quan về sự tiến bộ của HS.
- Tôn trọng cách nghĩ của gia đình.
Tìm hiểu về HS thông qua cán bộ lớp, tổ
Tìm hiểu về HS thông qua các bạn ngồi xung quanh trong lớp học
Tìm hiểu về HS thông qua các- GV khác- và cán bộ Đoàn
Tìm hiểu về HS thông qua hàng xóm của gia đình
Khi trò chuyện, phỏng vấn gia đình, bạn thân, cán bộ lóp, tổ, ngồi xung quanh trong lớp học... GV cần:
Đặt câu hỏi đơn giản, cụ thể, có thể dùng các câu hỏi trực tiếp, hoặc gián tiếp sao cho phù hợp, nhưng phải liên quan đến mục đích tìm hiểu. Hạn chế dùng những câu hỏi đóng mà người được hỏi chỉ cần trả lời có hay không.
Sử dụng nguyên tăc lắng nghe tích cực không chỉ để thu thập đầy đủ thông tin chính xác, thể hiện thái độ tôn trọng người nói, mà còn để kịp thời phát hiện ra ý cần phải tiếp tục hỏi sâu hơn nhằm khai thác thông tin toàn diện hơn.
Kết hợp các hình thức giao tiếp: Giao tiếp không chỉ bằng im mà còn thông qua ngôn ngữ không lời, đặc biệt là ánh mắt thân thiện, chân thành, khích lệ; tóm tắt và phản hồi lại ý kiến nghe được để đảm bảo rằng minh đã nghe và cảm nhận chính xác những điều mà họ đã trao đổi...
ĐÁNH GIÁ
Bạn hãy chia sẻ với đồng nghiệp để thực hiện một số yêu cầu sau:
Bạn sẽ sử dụng phổi hợp những phương pháp thu thập thông tin nào trong số những phương pháp nêu trên để tìm hiểu về HS cá biệt mà bạn đang dạy và giáo dục?
Lập kế hoạch thu thập thông tin về HS cá biệt mà bạn đang quan tâm và các phương pháp để thu thập những thông tin đó theo mẫu dưới đây:
|
TT |
Nội dung tìm hiểu |
Phương pháp sử dung |
Đổi tượng trao đổi |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Hoạt động 3: Hướng phối hợp xử lí, lưu trữ, khai thác thông tin về từng học sinh cá biệt
Hiệu quả GD HS cá biệt phụ thuộc khá lớn vào việc xử lí, lưu trữ và khai thác thông tin về đối tượng HS này. Bạn hãy viết ra suy nghĩ của minh về:
Cách xử lí thông tin về Hs cá biệt:
Cách xủ lí thông tin về Hs cá biệt:
Cách khai thác thông tin về Hs cá biệt:
THÔNG TIN CƠ BẢN
Cách thức xử lí, phân tích các thông tin thu được theo hướng kết hợp, đối chiếu, so sánh thông tin thu được từ các nguồn khác nhau, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá để giữ lai những thông tin được kiểm chứng từ nhiều nguồn, sau đó tổng hợp, khái quát hoá để có thể có những nhận định cơ bản về HS đó. Những thông tin thu thập được cũng có thể làm cơ sở để đánh giá chuẩn đoán (diagnosis evaluatìon) về một học sinh cụ thể. Đánh giá chẩn đoán là một thành phần quan trọng trong công tác giáo dục. “Chẩn đoán" trong giáo dục không chỉ để nhận dạng các khó khăn và các thiếu hụt trong kiến thức, nhân cách của HS mà còn để nhận dạng các điểm mạnh và các năng lực đặc biệt của học sinh. Giáo viên chẩn đoán nhằm giúp học sinh học tốt hơn chứ không phải để “dán nhãn" học sinh. Các kết quả của chẩn đoán được sử dụng để lập nên một kế hoạch dạy học, giáo dục nhằm loại bỏ các trở ngại của việc học và phát triển nhân cách của các em. Kế hoạch giáo dục cá nhân là văn bản xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và các điều kiện thực hiện theo tiến độ thời gian để tiến hành giáo dục.
Cáchlưu giữ kết quả đánh gía để lập hồ sơ từng HS cá biệt Hồ sơ HS có các tư liệu sau:
- Phiếu đặc điểm gia đình HS;
- Số phiếu theo dõi sự phát triển của cá nhân từng HS qua từng tuần, tháng, học kì, năm học;
- Các kết quả/thông tin sâu thu thập được về HS thông qua các phuơng pháp /kĩ thuật tìm hiểu đặc thù;
- Họcbạ;
- Số liên lạc.
Những thông tin về HS cá biệt cũng có thể được lưu trữ cả dưới dạng các file mềm chứa trong máy tính để vừa đảm bảo an toàn và dễ truy cập khi cần thiết.
Hướng khai thác thông tim về HS
Thông tin về HS cá biệt được khai thác để xác định biện pháp tác động, dự báo chiều hướng phát triển dưới tác động của các ảnh hưởng, dự kiến kết quả đạt được, cũng như những nguy cơ để có biện pháp phòng ngừa.
ĐÁNH GIÁ
Bạn hãy chia sẻ với đồng nghiệp để thực hiện một số yêu cầu sau:
Thầy, cô dự định sẽ làm gì, làm như thế nào để lưu trữ và khai thác thông tin về Hs cá biệt một cách an toàn và thuận lợi?
Hoạt động 4: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt Dựa vào kinh nghiệm GD HS cá biệt của mình, bạn hãy liệt kê ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng HS cá biệt.
Bạn hãy đọc những thông tim dưới đây để hiểu rõ thêm những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng HS cá biệt.
THÔNG TIN PHẢN HỒI
Chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân. Trong thực tế có những HS chưa nhận thức được: Học để làm gì? vì cái gì mà học? hoặc chưa biết hài hòa giữa quyền và bổn phận trách nhiệm của mỗi con người trong cuộc sống, do được giáo dục chưa đầy đủ hoặc chưa đúng cách, hoặc bản thân thiếu tự giác chấp nhận những bổn phận, trách nhiệm của mình bên cạnh việc được huờng thụ các quyền lợi trong gia đình, nhà trường và xã hội. vì vậy, các em đến trường, đi học như là ý muốn của gia đình, cha mẹ, mà không nhận thức được đi học là cơ hội để thành công và hạnh phúc sau này. Cho nên các em này thiếu tự giác, thậm chí thiếu trách nhiệm với việc học tập và tu dưỡng. Các em đi học như hòa vào dòng chảy của cái tuổi đến trường mà thiếu hẳn vai trò chủ thể tích cực vốn đáng phải có trong quá trình học tập và tham gia các hoạt động giáo dục, rèn luyện ý chí, nghị lực để vượt qua những khó khăn, thách thức trong cuộc đời.
Một số em có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống
Bên cạnh những em thiếu tự giác, cón có những em thiếu niềm tin, quan niệm chưa hợp lí về giá trị của con người và cuộc sống. Các em này không tin rằng: sự học sẽ đem lại cho con người giá trị và cuộc sống có chất lượng, có những em cho rằng tiền bạc và quyền uy mới làm nên giá trị của con người, cuộc sống, mà không tin rằng sự hiểu biết, tình người, danh dự của con người mới là giá trị và là một thư quyền lực vô hình của con người.
Chán nản
Có rất nhiều HS ở lứa tuổi khác nhau có tiềm năng nhưng cảm thấy chán nản về năng lực của mình, mất dần hứng thu, động cơ học tập, hoạt động. HS tin rằng mình không thể “khá" lên được, đánh giá thấp về bản thân mình, không vượt qua được khó khăn, đến bỏ ở giữa chừng, kém tự tin. Các nhà nghiên cứu về giáo dục kết luận rằng “tất cả những HS “hư" hay có hành vi không phù hợp đều là những HS chán nản". Khi chán nản, HS không còn hứng thú hoạt động và động cơ hoạt động nữa. Chán nản là nguyên nhân của hầu hết những thất bại học đường, đặc biệt với HS tuổi mới lớn. Một số em cho rằng mình không đáp ứng được mong muốn của thầy cô, cha mẹ. Một số thấy cha mẹ, thầy cô không đánh giá mình đúng mức. Trong trường hợp đó, HS sẽ quyết định không đáp lại các mong mới, các yêu cầu do người lớn đề ra cho HS nữa. HS mất dần hứng thú và cố gắng, trong khi cuộc sống là một quá trình cổ gắng liên tục.
Thậm chí, khi HS chuyển truờng hoặc chuyển lên bậc học cao hơn, thường là ở năm học đầu tiên, các em đang tập thích nghi với môi trường mới. Nếu bị phạt khi mắc lỗi, hay vi phạm nội quy nhà trường HS dễ thu mình, cảm thấy không an toàn, cồ thể giảm hứng thú, động cơ học tập hoặc thậm chí không thích đi học.
Phương pháp học tập không hiệu quả cũng có thể là nguyên nhân gây chán nản và mất động cơ học tập.
Rối loạn hành vi xã hội của học sinh cá biệt
Thuật ngữ “rối loạn hành vi xã hội" đã được biết đến từ lâu trong tâm lí học. Có nhiều mức độ rối loạn hành vi xã hội. Những biểu hiện sau có ở các mức độ rối loạn khác nhau:
Dưng dưng trước tình cảm của người xung quanh.
Coi thường các chuẩn mực cũng như các nghĩa vụ xã hội.
Hung tợn, có thể dùng vũ lực.
Không có khả năng cảm nhận tội lỗi và không thể rút ra những bài học có ích từ kinh nghiệm sống, ngay cả sau những lần bị phạt do phạm lỗi.
Có năng khiếu trong việc kết tội những người xung quanh hoặc biện hộ cho những hành động đi ngươc lai chuẩn mực xã hội của mình.
Những trẻ được chẩn đoán là” Rối loạn hành vi có nhữ đặc điểm sau:
Côn đồ. Rất thích đánh nhau.
Hung hãn, tàn bạo với mọi người và với súc vật.
Phá hoại mọi tài sản sở hữu.
Ăn cắp ăn trộm. Đốt phá.
Bỏ học. Bỏ nhà đi “bụi".
Rất hay lên cơn thịnh nộ, giận dữ.
Hay khiêu khích, châm chọc mọi người xung quanh.
Thường xuyên và công khai không chịu nghe lời.
- a. Các nhà nghiên cứu phân loại các rối loạn hành vĩ thành ba nhóm, gồm:
Nhóm rối loạn hành vi được giới hạn bởi- những điều giữa đình, như: quậy phá, chống đối, khiêu khích, châm chọc, ăn cắp, phá phách trong phạm vi gia đình, thể hiện trong mối quan hệ với những người thân ở gia đình.
Nhóm rối loạn hành vi không được chấp nhận bởi- nhóm xã hội, như: côn đồ, thích đánh nhau, tống tiền, tấn công bằng vũ lực, tàn bạo với động vật. Dạng nổi loạn này là sự kết hợp giữa hành vi quậy phá, hành vi đi ngược lai các chuẩn mực xã hội với sự tổn hại mối quan hệ của bản thân trẻ với nhóm bạn của mình. Trong trường hợp này trẻ hoàn toàn cô độc, bị hắt hủi và không được chào đón trong cộng đồng bạn cùng lứa. Những trẻ này thường có biểu hiện thô lỗ, không kiềm chế được bản thân, không có bạn thân.
Nhóm rối loạn hành vi sễ chấp nhận bởi- nhóm xã hội. Thuộc nhóm này là các rối loạn hành vi đi ngược lại chuẩn mực xã hội, hoặc các hành vi quậy phá ở những trẻ thường ngày hòa nhâp tốt với nhóm bạn cùng lứa. Những trẻ này, một mặt vẫn duy trì được mối quan hệ bạn bè thân thiết, lâu bền với nhóm của mình, nhưng đồng thời có những hành vi côn đồ và thể hiện tính tàn bạo với các nạn nhân.
Theo các chuyên gia, đổi với nhóm nổi loạn hành vi thứ nhất nguyên nhân chủ yếu nằm ở trong chính gia đình HS: hoặc cha mẹ đối xử với con cái quá khắc nghiệt và thô bạo, hoặc các thành viên trong gia đình quá thờ ơ, dưng dưng với nhau, hoặc chiều con quá mức, hoặc trong gia đình có quá nhiều “vấn đề xã hội" (nghiện ngập, không có việc làm, vướng vào tệ nạn xã hội..Trong khi đó, những rổi loạn hành vi ở nhóm thứ hai và thứ ba, nguyên nhân gia đình chỉ mang tính trung gian.
Các nhà chuyên môn trong lĩnh vực này đã tổng kết và đưa ra những bậc đối HS có nguy cơ cao mắc tật rối loạn hành vi xã hội bao gồm:
Thứ nhất, các kiểu hành vi chống lại chuẩn mực xã hội thường gặp ở các em trai nhiều hơn ở các em gái.
Thứ hai, thường ở các HS bị nổi loạn hành vi xã hội cón gặp cả những rối loạn về thần kinh, đặc biệt là hội chứng tăng động.
Thứ ba, yếu tố gây nên sự kích động của HS có thể do trình độ phát triển trí tuệ nhìn chung thấp. Những HS này thường bị cha mẹ quở trách vì kết quả học tập kém. Để tìm kiếm sự cảm thông và ủng hộ chúng sẽ đi ra bên ngoài rồi có thể gia nhập vào bất cứ nhóm trẻ nào ở bên ngoài.
Thứ 4: Vai trò của yếu tố di truyền (bố mẹ bị mắc tật rối loạn hành vi xã hội, nghiện ma túy, cha mẹ bị bệnh tâm thần...).
Thứ 5: Do tính cách của HS (thô bạo, thiếu đồng cảm, thờ ơ trước những nhu cầu của người khác, ích kỉ quá tự ti hoặc quá tự cao tự đại..
Các chuyên gia cho rằng, những nổi loạn hành vi xã hội rất hiếm khi có thể giải quyết được một cách nhanh chóng. Việc điều chỉnh, chính trị phụ thuộc vào nguyên nhân của nổi loạn, Theo đó, hoặc sẽ thực hiện liệu pháp gia đình nếu rối loạn thuộc nhóm 1, hoặc thực hiện liệu pháp với nhóm bạn, giúp HS thay đổi hình ảnh bản thân nếu rối loạn thuộc nhóm 2,3.
Đối với việc hạn chế các hành vi bạo lực ở HS, ngoài việc dạy tri thức thì sự quan tâm của GV đến đời sống tinh thần của HS, hiểu đặc điểm tâm lí và tôn trọng cá tính của các em là rất quan trọng. Nhiều HS do bị điểm kém, cô giáo mắng mỏ ngay trên lớp khiến các em thấy xấu hổ với bạn bè, bị tổn thương nghiêm trọng. Nhiều thầy cô dùng hình thức trừng phạt HS như là biện pháp giáo dục nhằm mục đích để HS vâng lời. Tuy nhiên điều này lại làm cho HS bị ức chế và tìm cách chuyển tâm trạng của mình sang bạn khác theo đúng cách đó. Vì thế, nhiều khi HS bị bạn đánh không hiễu do đâu.
Các nhà giáo dục học và tâm lí học thế giới đã đúc kết: lứa tuổi Tiểu học là lứa tuổi mà tri não HS chỉ tư duy một bước: ghi nhận, học hỏi; lứa tuổi THCS là tư duy hai bước: ghi nhận và phân tích đúng sai; lứa tuổi THPT: tư duy phân biện (cón gọi là tư duy tới hạn, hay tư duy nhiều bước): ghi nhận, phân tích đúng sai và đua ra giải pháp để giải quyết những sự kiện. Nếu trẻ Mầm non và Tiểu học thường bắt chước, làm theo thì ở bậc THCS và THPT các em đã phát triển tổt hơn về tư duy suy luận, cá tính bộc lộ rõ hơn, cùng với xu hướng tự khẳng định mình ngày càng nõ nét. Do đó, lúc này quá trinh giáo dục thành công chính là lam sao để các em tự giáo dục, tự nhận thức và rút ra bài học cho bản thân, vì vậy, trước hết cần để HS phải tự chịu trách nhiệm về mọi hành vĩ của mình.
ĐÁNH GIÁ
Bạn hãy chia sẻ với đồng nghiệp để thực hiện một số yêu cầu sau.
- a. Những HS cá biệt mà bạn đã từng hoặc đang dạy và giáo dục có những hành vĩ lệch lạc là do những nguyên nhân nào?
- b. Những dạng hành vĩ sai lệch mà HS cá biệt của bạn có cần đến sự ho trơ chỉnh trị của chuyên gia không?
Hoạt động 5: Tìm hiểu cách thức giáo dục học sinh cá biệt
Dựa vào hiểu biết và kinh nghiệm GD HS cá biệt, bạn hãy nhớ lại và liệt kê ra các phương pháp (cách thức) GD HS cá biệt mà bạn biết hoặc đã sử dung.
Bạn hãy đọc những thông tim dưới đây để hiểu rõ thêm các phưong pháp giáo dục HS cá biệt.
THÔNG TIN PHẢN HỒI
- a. Giáo viên cần phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện với học sinh cá biệt
GV phải hiểu đầy đủ từng Hs và những đặc điểm cơ bản cũng như những đặc điểm riêng của từng HS cá biệt và ứng xử theo quan điểm tích cực thì sẽ đem lại hiệu quả hơn.
Tiếp cận tích cực đối với HS có hành vi không mong đợi, hoặc HS cá biệt thể hiện ở một số khia cạnh sau:
- Thể hiện sự hiểu biết, thông cảm và chấp nhận trẻ.
- Tập trung vào điểm mạnh của trẻ.
- Tìm điểm tích cực và nhìn nhận tình huống theo cách khác tích cực hơn.
- Tập trung vào những điểm cố gắng, tiến bộ của trẻ.
- Thực hiện trước khi một hành động diễn ra, không chỉ khi thành công mà cả khi khó khăn hoặc thất bại.
HS cần cảm thấy được khích lệ để có tự tin và có động cơ hoạt động. GVCN tiếp cận tích cực thì sẽ khơi dậy được nhu cầu muốn khẳng định khả năng và giá trị của bản thân, muốn hoàn thiện nhân cách.
Muốn thay đổi hành vi của HS một cách hiệu quả, GV cần có sự hợp tác của HS, do đó GV cần chủ động tiếp xúc với HS để nắm bắt về điều kiện và hoàn cảnh, tâm tư, sức khoẻ... của HS; động viên, an ủi giúp cho các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc ốm đau, bệnh tật cố gắng yên tâm học tập và biết vượt khó, vươn lên.
b.Giúp học sinh biết nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân
Để HS có những ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ, trong các tình huống trước hết cần giúp HS nhận thức đúng được bản thân, trong đó phải xác định được đúng Mình là ai? Mình có điểm mạnh, điểm yếu gì? Đây vừa là một kĩ năng sống quan trọng của mỗi cá nhân, nó càng trở nên quan trọng đối với những người hay có những thái độ, hành vi ứng xử không phù hợp, khó chịu, phân cảm cho mọi người.
- b. Nhận biết được những giá trị đối với bản thân.
Việc nhận thức được điều gì có ý nghĩa và quan trọng đối với mình và những điều đó có phải thực sự là chân giá trị của con người và đời người không? Điều quan trọng nữa là cần nhận thấy bên cạnh những hạn chế nhất định, mình là người có giá trị thì HS mới có nhu cầu, động lực để hoàn thiện bản thân.
- c. Tự tin về gía trị và những điểm mạnh của mình để làm điểm tựa cho những hành vi và ứng xử một cách tích cực.
Trên cơ sở làm cho HS nhận thức được những điểm mạnh, giá trị của bản thân, khích lệ để các em tự tin phát huy những điểm manh và giá trị đó, đồng thời cố gắng khắc phục những hạn chế, những niềm tin vào cái phi giá trị hoặc phản giá trị để thay đổi hành vi, thói quen xấu, tiêu cực theo hướng lành mạnh và tích cực lên.
b. Giúp học sinh nhận thức được hậu quả của những hành vi tiêu cực.
GV kết hợp với tập thể lớp giúp HS dần nhận thức được nếu cứ hành động, ứng xử theo cách làm mọi người khó chịu, làm mọi người tổn thương, cản trở sự phát triển chung... thì không chỉ làm khổ, làm hại người khác, mà nguyên tắc sống trong tập thể, xã hội không cho phép bất cứ ai làm như vậy.
Nếu không thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực thì sẽ ảnh huờng đến tương lai, đến sự thành công và chất lượng cuộc sống của bản thân. Thay đổi hay là chấp nhận mọi sự rủi ro, thất bại?
GV và tập thể HS cần hỗ trợ các em trong quá trình thay đổi hành vi. Đây là quá trình khó khăn đòi hỏi sự kiên trì của HS cá biệt và sự khuyến khích, hỗ trợ của GV, gia đình, bạn bè. Mỗi con người, khi thay đổi hành vi thường trải qua một quá trình với các bước và các giai đoạn khác nhau. Có thể chia quá trình đó ra làm các bước như sau:
- Nhận ra hành vi có hại;
- Quan tâm đến hành vi mới;
- Đặt mục đích thay đổi;
- Thử nghiệm hành vi mới, đánh giá kết quả.
GV, gia đình, bạn bè cần dõi theo và hỗ trợ kịp thời để HS cá biệt
Phạm Quang Chính @ 16:05 28/02/2014
Số lượt xem: 3273
- BỘ MÁY NHÀ TRƯỜNG (22/02/14)
- ANH LANG QUE VIET NAM (28/07/13)
- ANH LANG QUE VIET NAM (28/07/13)
- Văn bản PGD &ĐT (23/07/13)
- Quyết đinh thành lập tổ kiểm tra hồ sơ học sinh khối lớp 9 năm học 2012 - 2013 (25/03/13)




Các ý kiến mới nhất